Chất nhầy cổ tử cung cũng chịu ảnh hưởng của kích thích tố giới tính, nó do hệ thống các tuyến trong cổ tử cung tiết ra. Lượng nhầy, tính chất và trạng thái của nó, kết tinh chất nhầy thay đổi theo sự biến đổi của kích thích tố giới tính, trong chu kỳ kinh nguyệt. Sau chu kỳ kinh nguyệt, nội tiết tố oestrogen tăng lên, chất nhầy cũng nhiều hơn, trước khi rụng trứng chất nhầy lại càng nhiều, có màu trong suốt, chất loãng như lòng trắng trứng gà có thể chảy dài thành sợi, chiều dài có thể tới 10 cm, được gọi là phản ứng kéo sợi.
Căn cứ vào những đặc trưng này của chất nhầy cổ tử cung, qua cảm giác hoặc qua quan sát trạng thái, tính chất của chất nhầy khi đi tiểu tiện hoặc lấy chất nhầy ở cửa âm hộ dính vào đầu ngón tay cái và ngón tay trỏ mà kéo ra, có thể dự tính được liệu đã đến kỳ rụng trứng hay chưa. Những biện pháp đã nêu ở trên, đều có ý nghĩa nhất định đối với việc dự đoán kỳ rụng trứng, nhưng rất khó đoán ra ngày chính xác. Để đoán được tương đối chính xác, có thể tiến hành kết hợp cả ba phương pháp, cũng có thể đến bệnh viện nhờ bác sĩ xác định giúp lượng kích tố giới tính trong máu hoặc quan sát bằng kính hiển vi những chất tiết ra ở âm đạo và chất nhầy ở cửa tử cung, giúp tính ra ngày rụng trứng.
- Rụng trứng có ý nghĩa thế nào?
Sinh con có kế hoạch là điều kiện phải có để loài người tồn tại và phát triển. Mặc dù có rất nhiều nhân tố liên quan đến việc sinh con nhưng rụng trứng là điều kiện tiên quyết vì có rụng trứng mới có khả năng thụ thai, còn không rụng trứng thì không có khả năng sinh con. Cho nên nắm vững kỳ rụng trứng của mình cũng như nắm chiếc chuông sinh mạng của con mình. Sau khi rụng trứng, có thể sống tiếp từ 12 đến 24 tiếng đồng hồ, trong môi trường thích hợp có thể sống 24 - 28 tiếng. Để đạt được mục đích sinh con, nên động phòng giao hợp vào đúng kỳ rụng trứng, như vậy khả năng trứng gặp được tinh trùng có xác suất cao hơn, khả năng thụ thai cũng cao hơn.
Ngược lại, để tránh thụ thai có thể sinh hoạt tình dục trong thời gian trước và sau kỳ rụng trứng khá xa, như vậy giúp cho trứng không thể gặp được tinh trùng, từ đó đạt được mục đích tránh thai. Cái gọi là tránh thai ” thời kỳ an toàn” chính là vì điều này. Thuốc tránh thai đang được ứng dụng hiện nay, cơ bản là để ghìm việc rụng trứng, từ đó đạt được mục đích tránh thai. Do vậy có thể thấy rằng, nếu buồng trứng không rụng trứng, tự nhiên sẽ mất đi khả năng sinh con, do đó sẽ dẫn đến chứng vô sinh.
Không chỉ như thế, việc buồng trứng không rụng trứng còn gây nên sự rối loạn của các nội tiết tố, dẫn đến sự biến đổi thất thường của niêm mạc tử cung, gây ra sự chảy máu có tính chức năng của tử cung mà không có rụng trứng, vì thế dẫn đến sự đau khổ buồn rầu về tinh thần và tổn hại về sức khỏe của người phụ nữ. Cho nên, khi phát hiện thấy chức năng buồng trứng có tật, phải kịp thời tìm bác sĩ điều trị.
- TRỨNG CỦA BẠN GÁI RỤNG THẾ NÀO?
Phụ nữ trong độ tuổi sinh sản thường phóng thích một hoặc hơn một trứng mỗi tháng nhưng việc ghi hình và chụp lại quá trình thì đến nay mới làm được.
Quá trình rụng trứng bắt đầu...
Trứng người do các nang trứng, là những bao nhỏ đầy chất dịch nằm trên bề mặt buồng trứng sản xuất ra. Xung quanh thời điểm rụng trứng, nang này sẽ có một chỗ lồi ra nhỏ, màu đỏ mà có thể nhìn thấy trong bức ảnh.
[IMG]http://c.upanh.com/upload/8/188/3L0.1242****_1_1.jpg[/IMG]
Quả trứng đã thành hình rõ nét...
Trứng được phóng thích ra ở cuối quá trình này, được bao quanh bởi một chất giống như thạch và có chứa các tế bào.
Sau khi rụng, trứng sẽ di chuyển vào ống dẫn trứng, nơi mà trứng có thể được thụ tinh.
Quá trình rụng trứng mà bác sỹ Donnez quan sát được mất khoảng 15 phút để hoàn thành.
Giáo sư Alan McNeilly, từ Đơn vị nghiên cứu sức khỏe sinh sản ở Edinburgh, đã nói rằng điều này phù hợp với nghiên cứu của ông trước đây về quá trình rụng trứng.
Ông cho biết: “Rụng trứng là một thời điểm quan trọng của người phụ nữ. Việc ghi lại cận cảnh quá trình này đã giúp các nhà khoa học hiểu thấu về quá trình rụng trứng. Và nhìn thấy được quá trình này trong đời sống thực là một sự kiện hiếm. Khó có thể tưởng tượng nổi!”.
- Làm thế nào xác định được nhiệt độ cơ bản của cơ thể?
Gọi tắt nhiệt độ cơ bản của cơ thể là BT. Trong thời gian suốt một ngày đêm, nhiệt độ cơ bản của cơ thể của một người chịu ảnh hưởng của môi trường bên ngoài và hoạt động trong cơ thể mà bị xáo trộn. Để tách khỏi những ảnh hưởng bên trong và bên ngoài cơ thể, sáng sớm mỗi ngày tỉnh dậy, không làm bất cứ việc gì cả, không uống nước, không ăn sáng, lấy nhiệt kế ngậm vào mồm 3 - 5 phút, sau khi đọc rõ số chỉ trên nhiệt kế thì ghi số liệu vào biểu mẫu kẻ sẵn.
Khi đo nhiệt kế phải chú ý điều kiện cơ bản, bởi vì việc đứng dậy, hoạt động ăn sáng, nói chuyện v.v… đều có thể ảnh hưởng đến nhiệt độ cơ bản của cơ thể. Thông thường, nhiệt độ cơ bản của cơ thể vào buổi sáng sớm biến động rất ít trong khoảng thời gian 3 - 6 giờ, nhưng biến đổi khá lớn vào tầm từ 3 đến 7 giờ chiều. Vì vậy, những người làm việc vào buổi trưa và ban đêm, cần phải ghi rõ thời gian trên tờ biểu mẫu nhiệt độ để tham khảo.
Nếu ban ngày quá mệt mỏi cũng gây ảnh hưỏng đến nhiệt độ cơ bản của cơ thể trong ngày hôm sau, chẳng hạn như cảm cúm, đau bụng đi ngoài, mất ngủ, uống rượu. Nếu trong chu kỳ kinh nguyệt thấy có các hiện tượng khác thường như đau bụng dưới trong thời gian ngắn, âm đạo ra máu nhỏ giọt, khí hư (tức bạch đối) bỗng nhiên ra rất nhiều… thì nên thuyết minh rõ trong biểu mẫu nhiệt độ.
Trên biểu mẫu nhiệt độ, tọa độ ô cột dọc là số độ của nhiệt độ cơ thể. Mỗi một ô vuông là 0,1 độ C, để thấy rõ hơn, có thể lấy mỗi ô vuông thay cho 0,05 độ. Tọa độ ô ngang là ngày và ngày chu kỳ kinh nguyệt, mỗi ô vuông là một ngày. Hằng ngày ghi số độ đo được của nhiệt độ cơ bản của cơ thể vào trong ô vuông bằng các điểm chấm tròn.
Vào kỳ kinh, ghi theo dõi vào ngày đầu tiên của chu kỳ kinh nguyệt cho đến ngày cuối cùng của kỳ kinh, sau đó nối tuần tự các chấm nhỏ lại, sẽ tạo được chuỗi nhiệt độ cơ bản của cơ thể. Đồng thời với việc ghi lại nhiệt độ cơ thể, hãy dùng ký hiệu chữ “x” đánh dấu những ngày hành kinh lại, ngày ra nhiều thì đánh hai dấu “xx”, ngày ra ít thì “chấm tròn”. Như vậy đã làm xong biểu đồ nhiệt độ cơ bản của cơ thể một cách hoàn chỉnh. Ngoài ra, để so sánh tình hình của mấy chu kỳ kinh liền nhau nên ghi mỗi chu kỳ thành một hàng.
Ảnh: chất nhày cổ tử cung vào thời điểm rụng trứng
- Thế nào là thụ tinh? Điều kiện cơ bản của việc thụ tinh là gì?
Thụ tinh là quá trình kết hợp giữa tinh trùng và trứng. Quá trình này được biểu hiện ở chỗ: sau khi trứng tách ra khỏi buồng trứng, qua vòi của ống dẫn trứng đi vào ổ bụng thân tử cung lúc đó nếu có tinh trùng đi vào trong cơ thể, qua cổ tử cung vào tử cung, đến ống dẫn trứng và gặp trứng kết hợp thành một tế bào mới - tức phôi thai. Chúng ta gọi quá trình này là thụ tinh. Thụ tinh là một quá trình sinh lý phức tạp, tất phải có đủ các điều kiện sau:
1. Đường ống sinh dục thông suốt
Đây là điều kiện phải có của việc thụ tinh, nếu không tinh trùng không có cách nào gặp được trứng, tất yếu sẽ không có thai. Nếu phía nữ bị viêm ống dẫn trứng mạn tính, ống dẫn trứng bị bít lại không thông, tinh trùng cũng không có cách nào gặp được trứng, có nghĩa là không thể thụ tinh được.
2. Tinh trùng, trứng bình thường
Đối với phía nữ mà nói, buồng trứng phải rụng trứng một cách bình thường. Đối với nam giới, tinh dịch phải bình thường. Tinh dịch tiết ra trong mỗi lần phóng tinh của nam giới khỏe mạnh có số lượng từ 2 - 5 ml, mỗi ml mang 100 triệu tinh trùng. Nếu mỗi ml mang ít hơn 60 triệu tinh trùng, thì tỷ lệ thụ tinh thấp, nếu dưới 4 triệu tinh trùng thì khó thụ tinh. Vì khi thụ tinh, dù chỉ có một tinh trùng đi vào gặp trứng, nhưng tất phải có hàng trăm triệu tinh trùng tham gia và quá trình phá hoại noãn. Đồng thời trong quá trình đi từ âm đạo qua tử cung vào ổ hình phễu của ống dẫn trứng rất nhiều tinh trùng bị chết trên đường đi, hơn nữa trong tinh dịch có tinh trùng khỏe có tinh trùng yếu, thường số tinh trùng hoạt động mạnh chỉ chiếm khoảng 60%, cộng thêm năng lượng vật chất dự trữ của tinh trùng khá ít, cho nên số tinh trùng chính thức đến được chỗ thụ tinh phần lớn là còn rất ít, khi tinh dịch quá ít thì khả năng thụ thai càng ít.
3. Thời gian giao hợp thỏa đáng, thích hợp
Vì trứng rụng ra từ buồng trứng thường chỉ có khả năng thụ tinh trong khoảng 12 - 24 tiếng đồng hồ, lúc này gặp được tinh trùng thì thụ tinh dễ nhất, nếu không trứng dần dần thoái hóa rồi chết. Khả năng thụ tinh của tinh trùng thường chỉ có thể kéo dài 1 - 2 ngày, thời gian dài ra, khả năng thụ tinh bị giảm đi hoặc teo mất, làm chết tinh trùng. Cho nên muốn có thai, phải lựa chọn thời gian thích hợp để giao hợp
Hình ảnh Thai ngoài tử cung ở vòi trứng, còn thai ở vị trí ngay chỗ nối giữa vòi trứng và tử cung (gọi là thai đoạn kẽ, thai sừng hay thai góc tử cung) là nguy hiểm nhất vì khó chẩn đoán được sớm, gây mất máu nhiều và nhanh khi thai vỡ, ảnh hưởng nhiều đến khả năng có thai sau này.
.................................................. ...................Nguồn: Tổng hợp từ Interner
.....................Thực hiện Moderator Babynhoklove.
.......Video+ Hình ảnh .
.