Tân Cương – Xứng danh đệ nhất danh trà Thái NguyênCó một điều đáng nói chính địa danh Tân Cương được hàng triệu người biết đến đó là một địa chỉ tin cậy, hàm chứa một sản phẩm văn hóa ẩm thực độc đáo và danh tiếng đó là Trà Tân Cương.
Tân Cương – Một xã nằm ở vùng trung du bán sơn địa của vùng Việt Bắc thuộc TP Thái Nguyên. Qua nhiều thế hệ, cái nghèo, cái đói, cái khổ, cùng nỗi cực nhọc vất vả của thế hệ cha ông… đã thôi thúc mọi người dân nơi đây vượt lên để làm nên một Tân Cương hôm nay.
Có một điều đáng nói chính địa danh Tân Cương được hàng triệu người biết đến đó là một địa chỉ tin cậy, hàm chứa một sản phẩm văn hóa ẩm thực độc đáo và danh tiếng đó là Trà Tân Cương.
Trên bản đồ của thành phố Thái Nguyên, xã Tân Cương nằm ở phía Tây cách trung tâm hơn10km. Một con đường từ trung tâm thành phố qua các vùng đồi với nhiều khúc quanh đột ngột đã được nâng cấp và làm mới .Thủa xưa chính từ con đường này thế hệ các bà, các mẹ, các chị của vúng đất này đã đi qua bao nhọc nhằn, vất vả, gồng gánh cả mùa đông rét mướt, cả mùa hè nắng lửa trên vai mang chè ra chợ Thái, để có tiền mua các vật dụng thiết yếu cho gia đình.
Tân Cương gắn với hai địa hình tiêu biểu và quen thuộc với bao người ấy là Núi Guộc và Sông Công. Cũng chưa ai giải thích được cái tên núi có tên là Guộc ấy có nghĩa gì trong kho từ vựng của tiếng Việt. Rất có thể đó là một từ cổ mà nhiều đời nay không dùng lại nữa. Gọi là núi nhưng nó cũng chỉ là một quả đồi đất thấp, có đường bao dưới chân, có mấy xóm quây quần xung quanh. Thế hệ đầu tiên khi khai phá Tân Cương - dac san thai nguyen đã biến núi Guộc thành một đồi chè kiểu mẫu về phương thức canh tác và năng suất cùng chất lượng chuẩn. Nhưng do tác dụng xâm thực mưa gió, đồi chè đến nay đã mất, chỉ còn lại rừng cây keo lai mới được trồng.
Sông Công là một nhánh chính của sông Cầu. Đây vốn là một con sông nhỏ, hiền hòa, chảy giữa lòng Tân Cương đem đến cho Tân Cương một cấu trúc hài hòa của nền sản xuất nông nghiệp. Và không gian huyền thoại về mối tình nàng Công, chàng Cốc dường như cũng đem đến cho các nương chè một không khí cổ tích thấm đẫm tình đời.
Vượt qua vùng đồi núi khô cằn, Tân Cương hiện ra như một bức tranh thủy mặc. Không biết cây chọn người hay người chọn cây làm bạn thủy chung nhưng người dân Tân Cương với cây chè dường như có những nét tính cách tương đồng . Đó là đức tính khiêm nhường và chịu khó.Bởi chỉ nhìn những màu xanh gợi cảm với những đồi chè mâm xôi, bậc thang, hoặc những, ít ai nghĩ rằng mỗi gốc chè phải tạo cho mình một bộ rễ khỏe khoắn, để xuyên phá các vỉa đất. Từ đó cây chè chắt chiu từng giọt nước để cho màu xanh. Cũng hệt như con người nơi đâynhọc nhằn kiếm tìm bát cơm, manh áo trong nắng gió, gian truân để mang đến cho đời hương chè xanh thơm thảo.
Một câu hỏi đặt ra không kém phần lý thú và thiết thực: Vì sao chè Tân Cương - tra thai nguyen lại cho một chất lượng tuyệt hảo như vậy? Hương vị trà Tân Cương dường như luôn tách ra đứng ở một vị trí riêng biệt. Các nhà khoa học chuyên ngành đã dành nhiều tâm huyết, thời gian và trí tuệ đi tìm câu trả lời trước một hiện tượng không đơn giản này. Những công trình nghiên cứu của khoa học hiện đại đã cơ bản thống nhất là chính yếu tố thổ nhưỡng và khí hậu có tính đặc thù đã làm nên giá trị phẩm chất của trà Tân Cương - tra tan cuong.
Về đất đai, các nhà khoa học đều nhất trí nhận định rằng chất đất ở Tân Cương cú chứa những nguyên tố vi lượng với tỷ lệ phù hợp thuộc quyền đặc hữu của cây chè . Vì chúng được hình thành chủ yếu trên nền Feralitic, macma a xít hoặc phù sa cổ, đá cát... Đất trồng chè ở vùng Tân Cương có độ pH phổ biến từ 5,5 đến dưới 7,0, thuộc loại đất hơi bị chua. Những đồi chè nào mọc nhiều sim mua, trên đất sỏi cơm màu đỏ son pha đất sét nhẹ thường cho hương vị chè đượm và có vị ngọt hậu. Đó chính là quyền đặc hữu làm nên hương thơm vị đượm của búp chè Tân Cương.
Về khí hậu, những nghiên cứu gần đây cho thấy vùng tiểu khí hậu phía Đông dãy núi Tam Đảo cao trên dưới 1.000m so với mực nước biển là điều kiện lý tưởng cho phẩm chất chè đượchoàn thiện. Nói một cách hình ảnh thì dãy núi Tam Đảo là tấm bình phong khổng lồ che chắn ánh nắng mặt trời phía Tây, như một màng lọc tự nhiên của hệ sinh thái, tạo ra ánh sáng tán xạ và một bầu khí quyển tương đối mát mẻ phù hợp với sự phát triển của cây chè để ra đời một sản vật ẩm thực quý giá. Tuy nhiên đó mới chỉ là những yếu tố cần nhưng chưa đủ. Một trong những yếu tố quyết định để cho Tân Cương trở thành danh trà chính là nhờ bàn tay lao động tài hoa của người Tân Cương.

Cho đến thời điểm này, người dân Tân Cương làm nông nghiệp đang tập trung chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng tăng dần diện tích trồng chè . Do vậy từ năm 2005 đến năm 2010, diện tích trồng chè tăng từ 400ha lên 450ha. Sản lượng búp khô đạt trên 1.100 tấn/năm. Năm 2010, tổng giá trị từ cây chè đạt trờn 70 tỷ đồng, chiếm 79% GDP của xã. Giá trị thu nhập từ cây chè đạt 120 triệu đồng/ha/năm, có nhiều hộ thu nhập từ 350 đến 400 triệu đồng/ha/năm.Thu nhập bình quân đầu người đạt 15,2 triệu đồng/năm.
Từ cây chè, người dân đang từng bước xây dựng xã Tân Cương to đẹp hơn, đàng hoàng hơn. Đường giao thông đã được bê tông hóa đến tận các xóm ngõ, những ngôi nhà khang trang mọc lên khắp nơi. Điều kiện làm việc của bộ máy chính quyền được cải thiện. Trường học 3 cấp đều đạt chuẩn quốc gia mức 1 và 2. Cùng với nhà thờ giáo xứ Tân Cương, chùa Y Na đã được xây mới sau mấy chục năm bị phá hủy do tác động của thời gian, chiến tranh tàn phá. Các tín đồ đạo giáo đoàn kết chia sẻ mọi kinh nghiệm cùng nhau xây dựng cuộc sống tốt đời đẹp đạo được thừa hưởng từ quá khứ càng vững bước đi lên giàu đẹp và văn minh.
Trong tâm hồn mỗi người dân Tân Cương vẫn lưu giữ những ký ức hào hùng của một thời chiến tranh ái quốc vĩ đại, nơi đây là chiếc nôi đào tạo các sỹ quan chỉ huy của những binhđoàn anh hùng gắn liền tên tuổi Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn, Trung đoàn Tu Vũ , Trường Quân chính quân khu Việt Bắc… với những chiến công khắp 3 miền đất nước…
Có thể nói những gì mà Tân Cương có được hôm nay là phần nhiều là nhờ được hưởng lộc của thế hệ ông bà mình. Chính họ - những nông dân của vùng chiêm trũng Nam Định, Thái Bình mang theo nền văn minh Sông Hồng lên đất Thái đó bất chấp gian khó, hiểm nguy khai phá rừng đại ngàn mở ra một vùng đất trù phú cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Đây cũng là cuộc hành hương đầu tiên có quy mô mang tính xã hội của người nông dân vùng đồng bằng châu thổ Sông Hồng lên khai phá vùng trung du.
Dù cuộc sống mới đầy thử thách khắc nghiệt, những thé hệ dầu tiên đã họp nhau đặt tên cho vùng đất mới là Nam Đồng, có nghĩa nơi hội tụ những người cùng quê Nam Định. Sau những biến động của xã hội, thôn Nam Đồng lúc sơ khai ngày đó, nay thành 5 đơn vị hành chính cấp xóm là: Nam Đồng, Nam Hưng, Nam Thái, Nam Tân, Nam Tiến. Xóm nào cũng gắn với chữ“Nam”. Thế mới biết, cái truyền thống của mỗi vùng đất ăn sâu vào tâm hồn con người như gien di truyền không dễ gì biến đổi được.
Dân Tân Cương đời trước truyền cho đời sau lòng biết ơn người đã khai sinh ra xã mình. Đó là Ông Nghè Sổ. Ông Nghè Sổ tên thật là Nguyễn Đình Tuân, quê làng Trâu Lỗ nay thuộc xã Mai Đình, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Ông sinh năm Đinh Mão (1867), đỗ đầu tiến sĩ khoa Tân Sửu (1901) đời vua Thành Thái. Sau đó được bổ nhiệm làm tuần phủ kiêm án sát của xứ Thái Nguyên lúc bấy giờ. Theo nguyện vọng và đề nghị của dân, trong đó có cả những người từng đi lính cho Pháp ụng Nghè Sổ đó cho lập một đơn vị hành chính mới có tên gọi là Tân Cương. Cũng từ ấy, người dân Tân Cương đã tôn ông Nghè Sổ lên Thành Hoàng Làng. Một vài chi tiết trong thư mục bảo tàng có nhắc đến việc ông Nghè Sổ từng gợi ý và tạo điều kiện cho xã Tân Cương một hướng làm ăn mới bằng cách đưa cây chè về trồng. Người thực thi ý tuởng này là ông Vũ Văn Hiệt, tên thường gọi là ông Đội Năm. Ông sinh năm 1883, quê xã Bạch Xam huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên. Khai khẩn đất hoang, gây dựng cây chè trên vùng đất mới ông Đội Năm được người dân coi là ông tổ của nghề chè nơi đây:
Đối với cây chè thủa mới khai sơn mở đất ấy phải mất chừng 4, 5 năm người trồng chè mới được thu hoạch. Điều suy nghĩ mang tính thời sự cho đến ngày nay là vì sao, người dân Tân Cương lại hăm hở bắt tay vào xây dựng một vùng chuyên canh cây công nghiệp hoàn toàn xa lạ với truyền thống canh tác của người nông dân ? Câu trả lời chính là đằng sau tất cả những gian khổ, thách thức của thủa đầu tiên đi mở đất ấy là một cuộc bứt phá rất can trường của những người nông dân Việt. Đó là tuy họ vẫn ở trong thửa ruộng mà đã bắt đầu có tầm nhìn vượt thời gian khi đưa cây chè trở thành 1 thức uống đặc sản của người Việt.
Xin nhấn mạnh một lần nữa là vào thời điểm đó là một phương thức hoàn toàn xa lạ với truyền thống canh tác của người nông dân vùng đồng bằng châu thổ Sông Hồng lên miền trung du lập nghiệp. Nhân đây xin kể tiếp câu chuyện ông tổ nghề chè Tân Cương là Ông Đội Năm. Lấy xúm Guộc là tâm điểm ông Đội Năm đó cất nhà và xây dựng cơ sở chế biến chè . Từ đó biến đất rừng nơi đây và dọc hai bên bờ sông Công thành những bãi chè. Về sau ông còn mở rộng trồng chè sang xóm Bình Định đối diện với xóm Guộc bên hữu ngạn sông Công.
Tất cả các hộ mới lên khai hoang lập nghiệp ở xúm Guộc và xúm Nam Đồng đều đồng loạt khai phá đất hoang để trồng chè như ông Cựu Vạn, ông Phó Xuân, ông Đội Chí, ông Bá Cư... Nhưng đất chè của ông Đội Năm rộng hơn cả, có thời gian phải thuê mướn hàng chục lao động mới đảm đương được công việc. Ở các xóm phía Bắc của xã như Hồng Thái, Đội Cấn, Gò Pháo ngày nay, nhiều gia đình cũng bắt tay vào trồng chè.
Giống chè được trồng ở Tân Cương, theo tư liệu của Trại chè Phú Hộ thuộc tỉnh Phú Thọ là thuộc giống chè lá to và xanh được lấy từ huyện Thanh Ba. Đây là giống chè bản địa được chọn lọc và xác định là rất phù hợp với vùng trung du Bắc Bộ. Chè được trồng bằng hạt, thường trồng vào vụ Đông Xuân hàng năm. Mặc dầu ít học nhưng lớp cư dân tiền bối đó tuân thủ nghiêm ngặt kỹ thuật canh tác thời bấy giờ. Chè được trồng theo khóm, mỗi khóm 4 cây xếp theo hình vuông, mỗi cạnh 20cm, hàng cách hàng cũng như khóm cách khóm từ 1,5 đến 2m tùy theo độ dốc. Kích thước trên được áp dụng cho tất cả mọi địa hình. Đồi chè ngày đó vuông vức, thẳng tắp như điểm binh.
Do đất đai ngày đó rất màu mỡ, độ phì rất cao nên cây chè phát triển nhanh, chỉ 3, 4 năm khóm chè đã xòe tán rộng tới cả mét. Giữa các luống chè được trồng xen canh khoai, sắn, đậu, lạc... Cũng là một phương thức lấy ngắn nuôi dài.